Curry (cà-ri) có phải tiếng Ấn Độ không???

 

“Những người đam mê ẩm thực vùng Nam Á đều biết rằng Cà-ri là món ăn tuyệt vời nhất trong các bữa ăn Ấn Độ nói riêng và vùng Nam Á nói chung. Tuy nhiên, không nhiều người biết rằng từ Curry (Cà-ri) không thực sự bắt nguồn từ Nam Á mà nó xuất phát từ Anh quốc. Bởi vì không có món ăn đặc trưng nào ở Ấn Độ, Pakistan, Ben-gan hay Sri Lanka có tên là “cà ri” cả! :O

Lấy Ấn Độ làm ví dụ, quốc gia này có 28 bang nhỏ và hầu hết các bang đều có ẩm thực riêng. Các món ăn này theo chân những người di cư từ Ấn Độ sang Anh và vì lẽ đó, từ “cà ri” được sử dụng để chỉ chung các món ăn cay cay có nguồn gốc từ Ấn Độ và Nam Á.

Chuyện kể lại rằng, vào những năm 1300, Vua Richard II triệu tập hơn 180 đầu bếp và vài triết gia lại để viết quyển sách nấu ăn bằng tiếng Anh đầu tiên. Quyển sách có tên “The Forme of Cury” và được ra đời vào năm 1390. Quyển sách nấu ăn này ghi lại 196 công thức và không công thức nào trong số đó giống với món cà ri Ấn Độ. Từ tiếng Anh cổ “Cury” được sử dụng để miêu tả ẩm thực, dựa trên từ tiếng Pháp “cuire” có nghĩa là: nấu, luộc hoặc nướng. “Cury” trở nên phổ biến hơn sau khi quyển sách được xuất bản và từ này thường được sử dụng để chỉ món thịt hầm.

Tuy nhiên, nhiều sử gia phản đối giả thuyết này và cho rằng từ “Curry” thực ra có nguồn gốc từ từ “Kari” trong tiếng Tamil và bị Anh ngữ hóa. Từ “Kari” được dùng để chỉ một món ăn vùng phía Nam Ấn Độ, gồm rau và thịt được nấu kèm với gia vị, có thể có nước sốt hoặc không. Lời giải thích này có vẻ hợp lí hơn vì cả từ Kari và Curry đều phát âm và nghe có vẻ giống nhau, đặc biệt ở phía Nam Ấn Độ.

Một giả thuyết khác cho rằng từ này được sử dụng trong thời Raj thuộc Anh (tên gọi đặt cho giai đoạn cai trị thuộc địa Anh ở Nam Á giữa 1858 và 1947). Các sĩ quan Anh nếm những món ăn này khi họ đóng quân tại Ấn Độ. Sau đó, họ học cách làm và thay đổi để phù hợp với khẩu vị của dân Anh hơn. Một đĩa cà ri đặc trưng của người Anh gồm những nguyên liệu như nho, gia vị, đường, nước sốt và vị rất dịu so với cà ri Ấn.

Từ “Currey” còn được sử dụng để miêu tả món Cà ri Ấn Độ và được cho là tiền thân của từ “Curry” ngày nay.

Ở Ấn Độ, Pakistan và các quốc gia lân cận, từ “Curry” không gợi lên chút ý nghĩa nào với dân bản xứ. Cư dân ở vùng Nam Á không sử dụng từ này, và các gia đình châu Á ở Anh cũng vậy. Do đó, nhiều từ khác được sử dụng để tả “curry” vì có nhiều kiểu nấu món ăn này, tùy thuộc vào các hộ gia đình có nguồn gốc từ đâu.

Những người từ phía Bắc Ấn Độ, cụ thể là từ Punjab, thường nấu món “sukhi” – một loại món ăn khô – hoặc nấu món “tari” – món có nước. Từ “tari” cũng là một từ gốc Hindi-Urdu mượn từ tiếng Ba Tư “tar” có nghĩa là món ăn có nước nhưng không đề cập tới gia vị trong món ăn đó. Nhiều người cho rằng từ “Curry” có nguồn gốc từ đây.

Các món chỉ có rau thường được gọi chung là “sabzi” và được nấu theo kiểu “sukhi”. Trong khi đó, kiểu “tari” lại không thể thiếu hương vị của thịt lợn, thịt gà, hải sản và pho mát. Các món nước khác của dân châu Á là những món được nấu từ đậu, gia vị và nước.

Từ Urdu dùng để chỉ cà ri là từ “saalan” và từ này cũng được dùng bởi các gia đình người Pakistan, còn trong tiếng Hindi nó là từ “masalaydar” để chỉ những món ăn có masala.

(Masala là một hỗn hợp thường được sử dụng trong món cà ri, thường bao gồm hành phi, bột thì là Ai Cập, tỏi và gừng, được trộn với cà chua và các gia vị khác như nghệ, bột garam masala, bột ớt paprika, muối và tiêu đen. Đây là loại hỗn hợp được dùng để làm bất kì loại cà ri nào, kể cả là món khô sabzi hoặc món nước tari.)

Một vài từ khác dùng để chỉ cà ri: có thể kể đến từ “shaak” trong tiếng Gujurati; từ “karahi” để chỉ một món ăn Pakistan với thịt cừu hoặc gà nấu với gia vị khô; từ “saaru” và từ “rasam” để chỉ món canh Karnataka (một bang của Ấn Độ); “sarson ka saag”: món ăn Punjabi làm từ rau chân vịt và lá mù tạt dùng với bột chapati ngô; “sadya”: một món ăn chay của vùng Kerala với cơm nóng và “jhol” – một món ăn của người Ben-gan với hải sản hoặc cá.

Thêm vào đó, ở các gia đình châu Á, không hề có khái niệm về độ cay của cà ri như vẫn thường được miêu tả trong các nhà hàng Anh quốc. Các món Vindaloo, Madras, Phall và Tindaloo chưa từng được áp dụng trong bữa ăn gia đình. Độ nóng và độ cay thường được điều chỉnh bởi sở thích và thói quen của từng gia đình. Chính vì sự khác nhau chút ít đó mà có nhiều loại cà ri trong menu nhà hàng ở Anh, ví dụ như “Gà Tikka Masala”, “Jalfrazi”, “Dhansak”, và “Korma”. Rõ ràng văn hóa Anh đã ảnh hưởng tới cà ri rất nhiều.
Do đó, từ “Curry” đã được quốc tế hóa theo phong cách của người Anh dùng để chỉ rất nhiều món ăn có nguồn gốc từ vùng Nam Á, và gần nhất trong số đó là món “kari” từ vùng Nam Ấn.”

Bon appétit 😉

Dịch: Cà-dốt
Minh họa: Cà-dốt

Nguồn: https://www.desiblitz.com/content/why-curry-is-not-indian

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s